Thursday, August 22, 2019
Home > CẢO THƠM LẦN GIỞ > Linh mục Giuse Nguyễn Thế Thuận, vị ngôn sứ bị giết hại
CẢO THƠM LẦN GIỞ

Linh mục Giuse Nguyễn Thế Thuận, vị ngôn sứ bị giết hại

Ngày 28.03,  là lễ Giỗ 42 năm của linh mục Giuse Nguyễn Thế Thuấn, Dòng Chúa Cứu Thế (DCCT).

Không ai biết chính xác ngày mất của ngài, DCCT đã lấy ngày 28.03 là ngày mà Bộ đội Bắc Việt đã ập vào giáo xứ Di Linh, Đà Lạt nơi cha đến giảng tĩnh tâm cho Giáo xứ để chuẩn bị đón mừng Lễ Phục Sinh, bắt đưa ngài đi.

Theo nhân chứng là một người giúp việc cho giáo xứ kể lại rằng: ngày 27.03.1975, Việt Cộng ập vào lục soát và lấy cắp những vật dụng trong Giáo xứ Di Linh, Đà Lạt. Cha Giuse Nguyễn Thế Thuấn lúc bấy giờ đang là giáo sư Kinh Thánh tại DCCT Đà Lạt được mời về đây để giảng tĩnh tâm. Cha đã ngăn cản nhóm người này và mạnh mẽ chỉ mặt chúng quát rằng: “các anh là những người đi ‘giải phóng’ miền Nam sao lại vào đến miền Nam lại lấy cắp hết đồ của người ta như thế.” Nhóm người đã dừng tay lại, im lặng bỏ đi. Nhưng sang ngày hôm sau, tức ngày 28.03, chúng kéo lại đông hơn, bắt ngài đi và giết hại ngài.

Sau đó khoảng 1 tuần, các anh em trẻ của DCCT Đà Lạt đã đi tìm và phát hiện ngài đã bị sát hại và bị vùi xuống một gốc chè. Các tu sĩ đã đem thi hài ngài về an táng tại nghĩa trang của tu viện DCCT Đà Lạt. Sau năm 1975, toàn bộ diện tích đất cũng như tu viện nằm trên ngọn đồi rất đẹp đã bị nhà nước cộng sản chiếm làm viện nghiên cứu sinh học. Trong tấm hình bên dưới, ta vẫn còn thấy dấu tích của tu viện DCCT với chữ Latinh nằm chính giữa mặt tiền: “COPIOSA APUD EUM REDEMTIO” nghĩa là “ƠN CỨU CHUỘC CHỨA CHAN NƠI NGƯỜI”.

————————

Cha Giuse Nguyễn Thế Thuấn sinh năm 1922, tại làng La Phù, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Đông (nay thuộc thủ đô Hà Nội), thuộc giáo phận Hà Nội, vào Dòng Chúa Cứu Thế tại Hà Nội và thụ phong linh mục năm 29 tuổi, tức vào năm 1951. Vì vào thời điểm này, Dòng đang có chương trình “Việt Nam hóa” đội ngũ giảng dạy tại Học Viện của Dòng, nên ngay sau khi được thụ phong linh mục, năm 1952, cha Nguyễn Thế Thuấn được cử đi du học tại Roma, kế đó, sang học tại trường Thánh Kinh Giêrusalem trong vòng 4 năm (1952–1956). Về nước, cha được cử dạy môn Thánh Kinh tại Học viện của Dòng ở Đà Lạt. Cuộc đời của cha từ nay như bị chôn chặt trong tòa nhà được xây bằng đá trên một trong những quả đồi cao nhất của Đà Lạt, trên đường từ thành phố đi Suối Vàng, bị gắn liền với công việc giảng dạy Thánh Kinh mà bề giao phó và việc dịch Thánh Kinh mà cha đã đề ra cho mình.

Giáo sư Thánh Kinh

Những năm ngay sau khi đi du học về, xem ra cha chưa thích nghi được với “xã hội” xung quanh, suốt ngày chôn mình trong phòng với sách vở, thường gắt gỏng, khó chịu với những ai tới xin trao đổi với cha về bài vở như sợ người ta đánh cắp mất thời giờ quý báu của mình. Xem ra Chúa cũng đã không dành cho cha nhiều ưu đãi lắm về mặt “ngoại hình”: một chiều cao dưới mức trung bình của một người Việt Nam bình thường, một cái giọng the thé nhiều khi làm chói tai người nghe. Nhưng không ít người có dịp nghe cha giảng lễ hay giảng bài đã phải thừa nhận rằng cha có một sức hấp dẫn đặc biệt: đằng sau hay xuyên qua cái “chói tai” của giọng nói và của ngôn ngữ sử dụng ấy lại là sự lay tỉnh “lật ngược lòng trí” của Lời Chúa, sức thôi thúc của “Bài giảng trên núi”, quyền năng không gì cưỡng lại nổi của Thiên Chúa từ lòng dạ “son sẻ”, sức sống mới từ cái chết trên thập giá… một số trong những chủ đề ưa thích của cha và gây ấn tượng trên người nghe thời ấy.

Thời ấy vốn là thời của Công Đồng chung Vatican II đang được tiến hành. Bầu khí Học viện, và của Giáo hội Việt Nam nói chung được hâm nóng với những phong trào “canh tân phụng vụ”, “trở về nguồn” và nhất là phong trào “Thánh Kinh”. Thế là cha giáo Thánh Kinh gặp thời: mỗi ngày mỗi có thêm nhà dòng, tu viện, giáo xứ đến mời cha tới giảng dạy Thánh Kinh. Tại Học viện của dòng, môn Thánh Kinh, từ niên khóa 1961–1962, được giảng dạy ngay từ Triết I, và do chính cha phụ trách. Cha buộc phải ra khỏi phòng, khỏi nhà dòng nhiều giờ, thậm chí nhiều ngày hơn, và do đó cũng có dịp tiếp xúc với nhiều người, trực tiếp đụng chạm tới nhiều vấn đề cụ thể của Giáo hội và cuộc xã hội. Cái tính khí “khó khăn” biến mất lúc nào không hay. Cha trở thành con người dễ tiếp cận. Có thể là qua thực tế, cha đã nghiệm ra được rằng thời giờ Chúa ban không phải dành cho riêng cho mình mà còn để chia sẻ cho người khác nữa.

Dịch giả Thánh Kinh

Cha cũng đã từng giữ chức Giám học Học viện và bề trên nhà dòng Chúa Cứu Thế tại Đà Lạt. Nhưng ai cũng thấy, những chức tước này chẳng thay đổi gì nhiều trong cung cách sống, trong cách xử sự, hay trong trật tự ưu tiên của công việc: vẫn là một cha giáo Thánh Kinh say sưa với sách vở, với lớp học và nhất là với việc dịch Thánh Kinh. Cha đã bắt đầu với Thánh Kinh Tân Ước. Bản dịch Tân Ước của cha đã được xuất bản, sau đó, được sửa chữa và được tái bản, vào những năm 1960. Song song với việc chỉnh sửa bản Tân Ước, cha cũng đã bắt đầu dịch bộ Thánh Kinh Cựu Ước, nhưng tiếc thay, đã không có đủ thời gian để hoàn tất. Chỉ còn cách đích mấy bước thì cha đã vội ra đi, và sau đó một số cha trong Dòng đã tiếp nối phần còn lại và xuất bản cuốn Kinh Thánh đầu năm 1976, khi nhà nước chưa kịp khống chế và cấm in ấn các tác phẩm Công Giáo.

Cuốn Thánh Kinh do cha Nguyễn Thế Thuấn dịch thuật là một công trình khoa học còn có giá trị cho đến ngày nay. Với những chủng sinh trong môi trường Đại Chủng Viện hay Học Viện của các Dòng Tu không thể không dùng đến bản dịch của cha Nguyễn Thế Thuấn. Các làm việc của cha để cho ra đời bản dịch Kinh Thánh như chúng ta thấy ngày nay là cả một công trình vừa tỉ mỉ, vừa mang tính khoa học trải dài trong nhiều năm.

Các học trò của Cha kể lại rằng, mỗi lần có dịp được bước vào phòng ở và làm việc của cha để thu dọn bản thảo, họ có cảm giác như được bước vào một thế giới khác. Bầu khí làm việc trong âm thầm, lặng lẽ, kiên trì như vẫn còn bao trùm cả căn phòng giản dị nhưng chứa đầy kiến thức khoa học. Các bản thảo được xếp ngay ngắn, thứ tự trong một cái bàn rộng, có nhiều ngăn. Bản thảo của từng cuốn sách thuộc Cựu Ước được đóng riêng, theo cùng khổ giấy, 20x40cm. Mỗi trang giấy, được viết một mặt, đều được chia thành ba cột. Cột giữa dành cho từng câu của bản dịch đã hoàn chỉnh. Cột bên trái ghi các từ quan trọng trong câu và các nghĩa của các từ này. Cột bên phải ghi các chú thích về từ ngữ. Cha dùng giấy bao xi măng để làm bìa cho các bản thảo. Tất cả đều được viết bằng tay. Bên cạnh đó là một tủ đựng các phiếu được xếp trong những ngăn nhỏ. Mỗi phiếu là một câu, một cụm từ, một từ với những giải thích hay chú giải của nhiều tác giả khác nhau…

Hôm nay kỷ niệm ngày cha Giuse Nguyễn Thế Thuấn về với Chúa, chúng ta kính cẩn cúi mình trước một vị ngôn sứ dám nói thẳng vào sự dối trá mà không sợ hãi, cảm phục một vị linh mục thông minh, cần cù, kiên nhẫn để chuyển Lời Chúa đến cho Giáo hội Việt Nam.

 

(theo Tu sĩ DCCT)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *