Saturday, October 19, 2019
Home > TRÀ QUÁN > Hành trình kỳ lạ của tấm bia đời nhà Nguyễn
TRÀ QUÁN

Hành trình kỳ lạ của tấm bia đời nhà Nguyễn

Một tấm bia đá chồng chéo những chữ viết bằng tiếng Hán và cả tiếng Pháp. Một tấm bia đá mang tên của hai người chết. Một người là cha vợ vua, còn một người là sĩ quan Pháp, tấm bia đá này lưu lạc hơn 140 năm mới đi đến đích, cùng với tấm bia là những câu chuyện ly kỳ.

Tấm bia đá này nằm ở bên trái Lăng mộ Hoàng Gia, là phần mộ và nhà thờ Quốc Công Phạm Đăng Hưng (1764-1825), khai quốc công thần thời Gia Long, hai lần kết sui gia với vua Minh Mạng (con trai ông lấy công chúa, con gái Phạm Thị Hằng, tức Thái hậu Từ Dũ – lấy vua Thiệu Trị đẻ ra vua Tự Đức), lăng tọa lạc trên một gò đất cao thuộc ấp Hoàng Gia, xã Long Hưng, thị xã Gò Công (Tiền Giang).
Tấm bia mặt bên ngoài còn in khá rõ hình thánh giá màu đen và dòng chữ Pháp ghi tên Barbé, nhưng đằng sau là những dòng Hán tự được chạm khắc tinh xảo. Đây chính là mấu chốt của những câu chuyện.

Tấm bia này làm từ đá trắng xứ Quảng Nam, được vua Tự Đức sai Phan Thanh Giản và Trương Quốc Dụng soạn bài văn ca ngợi ông ngoại mình là Phạm Đăng Hưng vào năm Tự Đức thứ 10 (1857) và khắc lên, rồi cho chở từ Huế vào dựng ở lăng mộ của ngài tại Gò Công. Đi kèm với bia đá này còn có một tượng Phật A Di Đà bằng gỗ mít, là tặng vật vua Gia Long ban cho chùa Khải Tường (Gia Định), nơi bà Thuận Thiên Cao Hoàng hậu Trần Thị Đang hạ sinh hoàng tử Đảm (sau này là vua Minh Mạng) trên bước đường bôn tẩu của Nguyễn Ánh (Gia Long)…

Khi thuyền chở bia đá, tượng Phật vào đến Ô Cấp (tức Vũng Tàu) thì bị viên sĩ quan Pháp tên là Barbé chặn lại và tịch thu 2 vật nói trên mang về đồn Pháp đóng ngay tại chùa Khải Tường (trung uý Barbé không hề biết bức tượng Phật được vua ban cho chính ngôi chùa này).

Cái chết của Barbé

Chuyện kể rằng, hồi đó ở Bến Nghé có đôi nam nữ yêu thương nhau, nàng tên là Hai, chàng tên Tri, nhưng vì hoàn cảnh không lấy được nhau. Sau đó nàng bị ép lấy Lãnh binh Sắc, nghi ngờ vợ mình vẫn lén lút hẹn hò với người yêu cũ nên Sắc lập kế bắt trói đôi “gian phu, dâm phụ”, thả bè trôi sông. Ngày đó dân cư thưa thớt, dưới sông sấu lội, trên bờ cọp beo… Chiếc bè chuối trôi được mấy ngày thì viên trung úy Barbé ở chùa Khải Tường (dạo ấy Pháp thường trưng dụng các ngôi chùa để đóng binh), trong một lần đi săn phát hiện, liền nổ súng vào bầy cá sấu đang đuổi theo bè và vớt những người bị trói lên bờ. Tri đã bị cá sấu đớp cụt một chân, chết cứng, còn nàng Hai đang thoi thóp…

Qua người thông ngôn, trung uý Barbé cho cô gái biết là quân Pháp sẽ chiếm trọn Nam Kỳ, đồn Chí Hòa sẽ mất nhanh chóng. Nếu cô Hai muốn, trung uý Barbé sẽ lấy cô làm vợ và xin trưng khẩn vài trăm mẫu đất ở ngoại thành Gia Định để cho cô Hai làm chủ rồi mướn người cày cấy. Cô Hai đồng ý kết hôn với viên sĩ quan Pháp, cô xin được về thăm nhà rồi đưa cha mẹ đến ở gần đồn cho an toàn, rồi sau đó sẽ làm lễ thành hôn, Barbé đồng ý.

Thấy nàng Hai trở về, tên Lãnh binh Sắc lại điên tiết, giam nàng trong một cái hố… Rất may trên đường chuyển quân ngang qua đây, Bình Tây đại nguyên soái Trương Định nghe thuật lại câu chuyện nên đã ra lệnh thả nàng và trừng trị tên lãnh binh. Sau khi được Trương Định tác động, nàng Hai đã nhận lời giúp đỡ nghĩa quân.

Tác phẩm Scènes de la vie Annamite (NXB P.Ollendorff, Paris 1884) của hai tác giả Le Vardier và De Maubryan có kể lại chuyện viên trung úy Barbé bị cô gái Bến Nghé tên Thị Ba (chứ không phải Hai), người đã theo quân Trương Định, dụ dỗ từ đồn chùa Khải Tường đến đồn chùa Ô Ma (Pagode des Mares – Thị Nghè), vào đêm 7.12.1860. Dọc đường đi đến điểm hẹn với người đẹp, Barbé đã bị nghĩa quân Trương Định phục kích bất ngờ, ngựa bị đâm ngã qụy. trung uý Barbé bị giết chết, nghĩa quân cắt luôn thủ cấp cùng hai cái cầu vai có gắn phù hiệu ba khoanh, lính Pháp ở đồn Khải Tường chạy đến cứu thì nghĩa quân đã mất dạng, không bắt được ai cả. (câu chuyện này cũng đã được đem lên sân khấu qua vở cải lương nổi tiếng Nàng Hai Bến Nghé do nữ nghệ sĩ Mỹ Châu đóng vai chính).

Pháp làm lễ an táng cho Barbé khá long trọng, Barbé được chôn cất ở nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi (công viên Lê Văn Tám ngày nay). Đồng đội của Barbé (đóng trong chùa Khải Tường) bèn lấy ngay tấm bia đá to đùng, có chi chít chữ Tàu mà lúc sống Barbé rất thích, làm thành tấm bia mộ cho Barbé. Họ dùng sơn đen vẽ Thánh giá và ghi họ tên trung úy Barbé đè lên mặt bia rồi dựng trước mộ… Có lẽ Barbé không bao giờ ngờ rằng chính “chiến lợi phẩm” mà anh ta đích thân tịch thu lại trở thành tấm bia mộ của mình.

Vật hoàn cố chủ

Tấm bia “yên vị” trước ngôi mộ của Barbé được 123 năm thì vào tháng 5.1983, UBND TP.HCM quyết định di dời nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi để xây dựng công viên Lê Văn Tám. Hài cốt Barbé được bốc lên, đưa về Pháp, nhưng tấm bia đá khổng lồ thì lại nằm vất vưởng bởi chẳng ai biết gốc tích của nó… Chỉ đến khi các nhà chuyên môn phát hiện được ẩn đằng sau hình Thánh giá là những chữ Hán được khắc chạm rất công phu, họ đem chà rửa sạch, đọc được mới hay đây chính là bia văn do vua Tự Đức ban. Tấm bia được gửi về Gò Công.
Mãi đến trung tuần tháng 7.1998, tấm bia đá này mới được đưa về đúng vị trí mà đáng lẽ hơn 140 năm trước nó phải đến. Quả là ly kỳ chuyện tấm văn bia “lưu lạc” những hơn 140 năm (1857-1998).

 

———————

Ảnh minh họa: Tấm bia lưu lạc bên cạnh Lăng mộ Phạm Đăng Hưng.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *