Home > TRÀ QUÁN > Tìm hiểu chữ “ký” trên bảng hiệu của người Hoa
TRÀ QUÁN

Tìm hiểu chữ “ký” trên bảng hiệu của người Hoa

Nhiều người cho rằng ở đâu có người Hoa ở đó sẽ có chữ ‘ký’ (記) trên bảng hiệu kinh doanh. Thí dụ: Cẩm ký, Trương ký, Hoàng ký mì gia … Có lẽ, chữ ‘ký’ này phổ biến nhất là ở Hồng Kông, Đài Loan và Việt Nam…
Trong Hán ngữ chữ ‘ký’ (記) có nhiều nghĩa, từ đó tạo ra những cách giải thích từ nguyên của chữ ‘ký’ khác nhau. Quan điểm được nhiều người đồng tình nhất là cho rằng: ‘ký’ là ‘hiệu’, ‘nhãn hiệu’(brand). Cẩm ký là hiệu Cẩm, Trương ký là hiệu Trương và Hoàng ký mì gia là tiệm mì hiệu Hoàng…
Thật ra, cách hiểu ‘ký’ là ‘hiệu’ chỉ đúng 1 phần, chưa lột tả hết ý nghĩa nội hàm của chữ này trên bảng hiệu của người Hoa, bởi vì nếu cho rằng ‘ký’ dùng để chỉ hiệu ăn thì tạo sao không dùng chữ ‘cư’ (居), vì chữ này cũng có nghĩa là ‘hiệu (ăn)”. Thí dụ: Minh Hồ cư (明湖居) có nghĩa là ‘hiệu Minh Hồ’; Đức Lâm cư (德林居) nghĩa là ‘hiệu Đức Lâm’.
Vậy chính xác thì ‘ký’ (記) là gì?
Xin thưa, vào thời xa xưa, người Trung Hoa hành nghề buôn bán thường sử dụng chữ ‘ký’ (記) trên bảng hiệu. Điều này trở thành thói quen, đặc biệt là đối với những doanh nghiệp điều hành cơ sở làm ăn qua nhiều thế hệ (cùng dòng họ). Chữ ‘ký’ sẽ tạo cảm giác lâu đời, cho thấy đó là 1 cửa hàng có uy tín cao. Đây là phương pháp tạo ấn tượng, gọi là ‘Lão tự hiệu’ (老字号), cũng giống như cách viết “since 1809” hoặc “since 1912” trong tiếng Anh vậy. Về sau, nhiều người buôn bán có tính hoài cổ hoặc không thật sự nghĩ ra 1 tên tốt cho cửa hàng của mình, họ thường mượn cách đặt tên kiểu này (sử dụng chữ ‘ký’).
Nhìn chung, chữ ‘ký’ trên bảng hiệu thường được dùng cho cửa hàng, tiệm ăn hay nhà hàng…, chủ yếu bán thức ăn và thức uống. Nó thường là định ngữ đứng sau họ của người chủ. Thí dụ: nếu ông Vương Trung mở 1 quán cà phê, ông có thể đặt bảng hiệu là ‘Vương ký ca phê điếm’ (王記咖啡店), nghĩa là “quán cà phê của ông Vương’ hoặc viết gọn là ‘Vương ký’ (王記). ‘Ký’ ở đây giống như hình thức sở hữu cách ‘s như trong tiếng Anh. Do đó, ta có thể viết song ngữ Hán – Anh trên bảng hiệu là 王記咖啡店 (Wang’s coffee shop) hay 王記 (Wang’s)…
Tương tự như vậy, nếu bán thịt quay thì có thể ghi trên bảng hiệu là Trương ký thiêu nhục (张記烧肉 – tiệm thịt quay của họ Trương); bán lạp xưởng thì ghi Trần ký lạp trường (陈記腊肠 – tiệm bán lạp xưởng của họ Trần). Trong tiếng Anh, chữ ‘ký’ (記) thường được ghi là ‘kee’. Thí dụ: Hou Kee seafood steamboat(新好記 – Tân Hiếu ký ); Keung Kee (强記 – Cường ký)…
Riêng ở Malaysia, có hiện tượng là nhiều cửa hàng cùng mang tên Hup Kee (合記 – Hợp ký), đặc biêt là những quán cà phê và nhà hàng. Đây có thể xem là 1 hình thức nhượng quyền sử dụng tên theo kiểu những quán cà phê Trung Nguyên trước đây ở Việt Nam.
Tóm lại, ‘ký’ (記) không đơn giản là ‘hiệu’, thuật ngữ này là hậu tố cố định của 1 danh ngữ (sau họ người chủ), nhằm cho thấy sự làm ăn lâu đời, đầy uy tín của 1 cửa hàng nào đó. Chữ ‘ký’ có tính chất như sở hữu cách ‘s trong tiếng Anh, chứ không đơn thuần dùng để chỉ 1 “hiệu ăn”, bởi vì, nếu vậy thì người ta có thể sử dụng chữ ‘cư’ (居) chứ không cần dùng chữ ‘ký’ (記).

Vương Trung Hiếu 8/6/2019

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *