Sunday, December 15, 2019
Home > STATUS CỦA HÔM NAY > Việt Nam kiện Trung Quốc cái gì ở Biển Đông?
STATUS CỦA HÔM NAY

Việt Nam kiện Trung Quốc cái gì ở Biển Đông?

VN kiện TQ cái gì ở Biển Đông ?

Trên BBC có đăng bài viết của tác giả Dương Danh Huy tựa đề “Biển Đông: Quá rụt rè trong việc kiện TQ, VN đang mất lợi thế’. Tác giả cho rằng VN cần phải kiện TQ trước một “Hội đồng Trọng tài (HĐTT) lâm-cấp thời (ad hoc) được thiết lập theo Phụ lục VII của UNCLOS”. Mọi người có thể tìm đọc bài viết để biết thêm các chi tiết (VN kiện TQ về cái gì, ở tòa án nào v.v…).

Theo tôi, bài viết có một số luận điểm cần được thảo luận.

Trong bài tác giả tự đặt câu hỏi: “Phán quyết 2016 đã bác bỏ Đường Chữ U rồi, kiện nữa làm gì?”

Tác giả tự trả lời: “Phán quyết đó (PCA 11-7-2016) chỉ có tính ràng buộc giữa Philippines và Trung Quốc. Nếu Việt Nam muốn có một phán quyết có tính ràng buộc giữa mình và Trung Quốc, Việt Nam phải kiện Trung Quốc”.

Theo ý của tác giả thì giữa VN và TQ đường 9 đoạn chữ U vẫn còn hiệu lực. VN cần phải kiện để bác bỏ nó.

Điều này vừa không đúng vừa “nguy hiểm”.

Nếu ta có theo dõi diễn biến vụ Phi đơn phương kiện TQ ra tòa Trọng tài thường trực (CPA) ngày 22-1-2013, cũng như có tham khảo nội dung phán quyết của Tòa ngày 11-7-2016, ta thấy nội dung phán quyết hầu hết nhắm vào các việc “giải thích và áp dụng” Luật biển (UNCLOS 1982) trong phạm vi Biển Đông.

Ta có thể liệt kê các phán lệ : 1/ “Quyền lịch sử” của TQ thể hiện qua đường 9 đoạn thì “không phù hợp” với Công ước (đoạn 261-272, 278 Phán quyết CPA 11-7-2016). 2/ Yêu sách của TQ (và Phi) về đường cơ sở quần đảo Trường Sa bị bác bỏ (đoạn 573, 574). 3/ Các cấu trúc địa lý ở Trường sa không có cái nào phù hợp với định nghĩa “đảo” theo điều 121 (3) để yêu sách vùng kinh tế độc quyền hay thềm lục địa (đoạn 626).

Trên nguyên tắc, Công pháp quốc tế (Droit International Public) được thành hình trên các kết ước được sự đồng thuận của các quốc gia. Còn Thông luật quốc tế (Droit International Coutumier) đặt căn bản trên những tập quán đã được các quốc gia nhìn nhận lâu đời cũng như những “phán lệ” thể hiện qua các “án lệ” của tòa án quốc tế.

Vụ phân xử Phi kiện TQ ngày 22-1-2013 do Tòa Trọng tài Thường trực ở La Haye phụ trách. Phiên tòa được thành theo Phụ lục VII của UNCLOS (thuộc LHQ) và Tòa tuyên bố “có thẩm quyền” để phân xử. Những lời “giải thích” và “diễn giải cách áp dụng” Luật của Tòa án quốc tế thuộc LHQ về một bộ Luật quốc tế (Công ước quốc tế về luật Biển 1982 – UNCLOS), hiển nhiên là “Luật”.

Mặt khác, ngày 05-12-2014, Việt Nam đã đệ trình một bản Tuyên bố lên PCA công nhận Toà Trọng tài có thẩm quyền để xét xử đồng thời yêu cầu Tòa tuyên bố đường chín đoạn của Trung Quốc không có cơ sở pháp lý.

Tức là, trong chừng mực, VN có tham gia vào phiên tòa ở nội dung đường 9 đoạn. Và khi VN nhìn nhận thẩm quyền của Tòa, tức là VN nhìn nhận nội dung phán quyết.

Tác giả cho rằng phán quyết không có hiệu lực ràng buộc đối với VN hiển nhiên là không đúng.

Nguy hiểm là khi phát biểu như vậy tất cả những hành vi quấy nhiễu của TQ ở bãi Tư chính bắt nguồn từ những “tranh chấp”.

Những tranh chấp này có thể đến từ sự “chồng lấn” từ việc “phân định biển” : 1/ vùng kinh tế độc quyền của VN với “danh nghĩa lịch sử” và “biển lịch sử” của TQ thể hiện qua bản đồ 9 đoạn. 2/ vùng EEZ của VN với EEZ các đảo TS mà TQ tuyên bố chủ quyền.

VN có thể bị “việt vị” do TQ bảo lưu ở điều 298. Tòa không có thẩm quyền phân xử một tranh chấp đến từ việc “phân định biển” hay có nguồn gốc từ tranh chấp chủ quyền.

Điểm 1 trong bài viết, tác giả cho rằng “1/ Việt Nam cần kiện Trung Quốc vi phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.”

Khi cho rằng phán quyết của Tòa CPA 2016 không thể áp dụng cho VN. Vậy thì TQ đã “vi phạm” điều gì ở vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của VN ?

Muốn chứng minh (TQ vi phạm) thì VN phải yêu cầu Tòa giải thích lại những điều mà Tòa CPA đã giải thích qua phán quyết 11-7-2016: 1/ yêu sách “danh nghĩa lịch sử”, “vùng nước lịch sử” của TQ thể hiện qua bản đồ 9 đoạn thì không phù hợp với UNCLOS. 2/ Các cấu trúc địa lý ở TS không có cái nào là “đảo” theo định nghĩa của điều 121(3).

VN không phải là Phi để có những yêu cầu “nguy hiểm” như vậy. Đối với Phi, TQ không có bằng chứng. Nhưng với VN, TQ có thể trình ra một lô bằng chứng (công hàm 1958, bản đồ, sách giáo khoa…) cho thấy VN đã nhiều lần nhìn nhận chủ quyền của TQ ở HS và TS.

Pháp đình của Tòa lúc đó sẽ trở thành diễn đàn để TQ “tố khổ” VN.

Trở lại vấn đề, nếu VN muốn kiện TQ trước một “hội đồng trọng tài” theo ý của tác giả, điều cần thiết là phải đặt hồ sơ trên nền tảng của phán quyết CPA 2016. Trong đó phải làm rõ là hành vi “TQ vi phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của VN” nằm trong phạm vi “giải thích và áp dụng UNCLOS”.

Nếu không làm được việc này VN đối diện với nguy cơ Tòa “không có thẩm quyền xét xử”.

Tác giả cũng đưa ra những lập luận :

1/Các lô 05, 06, 07, 130, 131, 132, 133, 154, 155, 156, 157 và một phần của bãi Tư Chính nằm trong EEZ tính từ lãnh thổ không bị tranh chấp của Việt Nam.
2/Phần còn lại của bãi Tư Chính nằm trong thềm lục địa tính từ lãnh thổ không bị tranh chấp của Việt Nam.
3/Các khu vực này nằm dưới mặt nước, do đó không nước nào có thể tuyên bố chủ quyền đối với chúng. Bất cứ nước nào, tối đa cũng chỉ có các loại quyền chủ quyền và quyền tài phán (khác với chủ quyền) dựa trên nguyên tắc đất thống trị biển và UNCLOS.
4/Các khu vực này không thể nằm trong EEZ hay thềm lục địa của bất cứ đảo nào đang bị tranh chấp (tức là các đảo thuộc quần đảo Trường Sa). (Lý do là theo Điều 121(3) UNCLOS không đảo nào được hưởng quy chế vùng EEZ hay thềm lục địa, như HĐTT 2016 đã khẳng định).
5/Trung Quốc không thể có quyền lịch sử đối với vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa của Việt Nam. (Lưu ý HĐTT 2016 đã khẳng định rằngTrung Quốc vừa không hề có quyền lịch sử đối với vùng biển và đáy biển bên ngoài lãnh hải 12 hải lý, vừa không thể bắt cá hai tay, một mặt thì đòi tự do tiền-UNCLOS trong việc họ khai thác bên trong EEZ của các nước khác, một mặt thì không chấp nhận tự do tự do tiền-UNCLOS của các nước khác khai thác bên trong EEZ của họ. Việc phê chuẩn UNCLOS có nghĩa phải bỏ cả hai sự tự do này).
6/Vì vậy các khu vực này hoàn toàn thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam. (Lưu ý đây là những quyền có hạn chế được UNCLOS quy định, khác với chủ quyền mà không nước nào có thể có).
7/Trung Quốc đã vi phạm các quyền này của Việt Nam và phải ngưng vi phạm.

Phản biện theo lập luận của tác giả: phán quyết CPA 2016 không có hiệu lực ràng buộc với VN.

Điểm 1 và 2 các lô (bãi Tư chính) nằm trên thềm lục địa của VN nhưng cũng nằm trên thềm lục địa (pháp lý 200 hải lý) của đảo Trường Sa lớn (mà trên bản đồ tác giả quên vẽ). Tòa có thể không có thẩm quyền phân xử vì: 1/ tranh chấp đến từ việc phân định biển. 2/ tranh chấp bắt nguồn từ tranh chấp chủ quyền. Cả hai khoản này TQ bảo lưu ở điều 298.

Điểm 3, bãi Tư chính nằm dưới mặt nước, nó có thể thuộc về thềm lục địa (địa lý) tính từ bờ biển VN nhưng nó cũng có thể thuộc về thềm lục địa (pháp lý) của đảo Trường sa lớn.

Điểm 4, 5, 6 và 7 tác giả đã loại trừ Phán quyết CPA 2016 (phán quyết không có hiệu lực với VN và TQ) thì không thể vịn vào nội dung án lệ để cho rằng các đảo thuộc TS không phải là “đảo” theo định nghĩa điều 121(3) cũng như quyền lịch sử của TQ theo bản đồ 9 đoạn bị Tòa bác bỏ. Tác giả vì vậy không thể khẳng định vùng Tư chính “hoàn toàn thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của VN”. Tác giả lại càng không thể cho rằng phía TQ “vi phạm các quyền” của VN.

Tóm lại, ý kiến của tôi là, (như đã từng viết đi viết lại nhiều lần) VN vận động sao cho phán quyết 11-7-2016 của tòa CPA có hiệu lực áp dụng chớ không phải đi kiện để (hy vọng) có thêm một phán quyết với nội dung tương tự.

Vấn đề là vận động thế nào ?

Trương Nhân Tuấn

(Theo Fb Nhân Tuấn Trương)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *